BÁNH TRUNG THU NHÂN THỊT NGƯỜI – Chap 4

CHAP 4
[…] K’Nơ nghẹn ngào, chưa kịp nói gì thì Tiên đã tiếp lời.

“Vì nhờ anh đã ăn mấy cái bánh ấy, mà tôi mới có thể hiện ra với anh…”
Rồi Lãm Thi Tiên chỉ tay về cái giếng ngoài vườn.

“Chắc xem qua thì anh cũng hiểu bên dưới cái giếng có gì rồi chứ? Là phần thừa của thi thể tôi sau khi bị lão lốc thịt, không phải chỉ mỗi tôi mà các người bị lão ấy phanh thây cũng đều bị ném xuống cái giếng đó! “Hai cây cột” khi nãy định làm hại anh là một trong số những người bị giết, lão cũng làm như làm thịt người đàn ông kia”

Khung cảnh lại hiện ra với K’Nơ

Trước tiên là móc mắt ăn sống, sau thì xẻ một chút thịt ở vai ăn thử nhưng lão lại chê thịt người ấy hơi hôi nên để mặc như vậy mà ném xuống giếng. Nhưng người đàn ông đấy vẫn chưa chết, thân tàn ma dại, mù cả hai mắt mà thoi thóp sống dở chết dở nơi đáy giếng, phải ăn thịt xác thừa của người khác dưới giếng mà lấy sức cố leo lên nhưng lên gần đến miệng giếng thì lại vướn cái xác khác mà rơi ngược lại.

Cứ như thế được hơn mười hai ngày thì anh ta chết cóng vì ngâm nước. Da bong ra khỏi thịt, lộ rõ các bó cơ teo tóp, dây gân và mỡ người vàng sậm, da thì nhờn nhợt trắng tái, nhăn nheo như cái khăn mặt, thịt vì bị rữa nên trôi xuống, tạo cảm giác dài ra. Mỗi đêm, anh ta đều hiện về để tìm lại đôi mắt nhưng đâu biết rằng đôi mắt của anh đã vĩnh viễn thành đống phân trong hầm cầu rồi. Con mắt tròn, mọng nước, khi cắn vào dịch mắt chảy ra, có mùi hơi ngai ngái, béo, bùi, khi nhai không có cảm giác cứng mà hơi dai, vành mắt giống như đang ăn da heo được luộc kỹ. Phần lòng đen, ăn có cảm giác hơi gây sạn trong miệng, tuy nhiên khi tan ra thì có mùi thơm như lòng trắng trứng gà vì béo quá nên ăn sẽ có cảm giác hơi ớn nên lão chỉ ăn một con, còn một con thì lão bỏ, chắc bị lũ chuột tha đi mà gặm rồi”

K’Nơ vừa nghe vừa trào nước dãi trong miệng, không phải vì thèm mà vì buồn nôn. Cậu nhăn mặt nuốt nước bọt vào họng, không ngờ hai cái bánh lúc vừa đến xứ này ăn xin lại làm từ “thịt kia”, thảo nào lại có mùi vị đậm đà tuyệt vời mà lạ lạ, đáng thương hơn là mẻ bánh trung thu hôm qua có cả thịt của Lãm Thi Tiên trong đó.
Bổng K’Nơ nảy ra ý gì đó, nhìn Thi Tiên rồi nói:

“Hay là nhân lúc ông chủ đi vắng, tôi làm một cái bài vị cho cô nhé! Cô sinh ở đâu? Bao nhiêu tuổi? À, mặc dáo dài, chắc khoảng 16 – 18 tuổi hả?”

Lãm Thi Tiên tủi thân, khẽ gật đầu rồi khóc ròng.

***

Tiệm bánh Cát Tường này, chỉ là một tiệm nhỏ nhưng rất đắt hàng, vì người ta khen bánh của lão già kia ngon lạ khó cưỡng, ăn một lần là nhớ mãi. Đâu phải chỉ bánh bao, mà thường ngày lúc tầm chiều, hắn còn bán cả bánh mì paté, bánh mì phá lấu,.. thứ paté béo ngậy đó làm từ gan và mỡ người băm ra rồi trộn vào đem hấp lên. Phá lấu, lạp xưởng thì lão moi ruột nạn nhân, đem rửa sạch rồi ướp gia vị, khìa với nước dừa tươi theo công thức của người Hương Cảng*. Da người và lỗ tai thì lão lốc ra, tỉ mỉ xẻ từng sợi mỏng, nhỏ như que tăm rồi trộn với thính gạo để làm bì trộn, mỗi buỗi chiều thu hút biết bao cô cậu học sinh tan trường với cái bụng đói mà kéo đến tiệm chờ mua bánh mì.
Người phương xa thì mong mỏi tới Tết Đoàn Viên để mà về đây đặt mua bánh trung thu.
Bánh thập cẩm thì lão dùng thịt người phơi một nắng rồi xẻ ra thành xớ, nấu xốt với lá chanh cho kẹo lại, còn bánh nhân ngọt thì dùng mỡ người đun nóng cho chảy ra rồi trộn với đậu xanh tán nhuyễn, dừa nạo, khoai môn mà làm nhân. Bánh pía thì còn có cả mỡ người và gân người xắt hạt lựu, ăn vào thì hơi dai, dẻo, sựt sựt như thạch rau cau rong biển trong trà sữa vậy, chính vì công thức chế biến độc đáo đó mà bánh trung thu và bánh pía của lão có mùi vị lạ miệng, đậm đà khiến ai ăn rồi thì không thể nào quên, nhưng họ đâu biết rằng để có được thứ “nguyên liệu” vạn người mê đó thì bao nhiêu người đã phải bị phanh thây xẻ thịt, mọi ruột lốc xương dưới lưỡi dao lạnh lùng.
Nhưng vẫn đau lòng nhất là Lãm Thi Tiên, cô gái tuổi vừa đẹp nhất, trong trắng hồn nhiên tinh khiết như hạt nắng lại bị tên già này cướp mất cái ngàn vàng lại còn chết không toàn thây, thi thể bị phân chia làm nhân bánh, oan hồn không thể siêu thoát.

Lại nói về Vương Lưu Hùng, lão là người người gốc Hoa nơi đất Đề Ngạn – Tây Cống**.
Thuở thiếu niên làm kéo xe cho nhà một đại gia, vì cuộc sống làm không đủ ăn và chiến tranh ác liệt, lão dẫn vợ chạy đến vùng này, dựng một lò bánh nhỏ sinh sống qua ngày.
“Một túp lều tranh, hai quả tim vàng” ngày qua ngày cho đến khi bà vợ không chịu được nữa.
Bao nhiêu vốn liếng đều đổ vào lò bánh nhưng buôn bán ế ẩm, vợ lão vì không chịu được cảnh cơ hàn mà bỏ theo một người cán bộ của thôn.
Căm hận vì phụ bạc, phu thê nghĩa trọng thiêng liêng mà thua bạc trắng lửa hồng cộng với ghen tuông mù quáng, lão lạnh lùng ra tay sát hại người vợ từng đầu ấp tay gối với cả tình địch.
Tình hình kinh tế còn khó khăn, thịt, cá là những thực phẩm xa xỉ đối với nhiều người, có tiền mà mua thịt lão cũng chỉ để làm bánh bán kiếm chút đỉnh chứ cũng không dám ăn, thế là lão nảy ra ý định làm thịt cả hai để làm nhân bánh, lão hận cả hai đến tận xương tủy, lốc thịt làm bánh để cho cả thiên hạ này ăn thịt hai người, phần xương thịt đó sẽ hóa thành phân cho chó ăn vừa trả được thù tình vừa có nguyên liệu để kinh doanh mà không tốn một xu, lão hí hửng phân chia thi thể, băm nát ra rồi làm nhân bánh, khoảng thời gian đó là đầu tháng Tám âm lịch, thế là bánh trung thu nhân thịt người trứ danh ra mắt từ dạo đó.

Bà con hàng xóm láng giềng ai cũng vì cuộc sống mưu sinh mà không để ý đến sự mất tích của người vợ lão, ai hỏi thăm thì lão kể rằng vợ mình vì chê nghèo mà đã bỏ theo người đàn ông khác nên lão ở vậy và không muốn lấy vợ nữa. Tất cả bà con lối xóm đều nghĩ ông Hùng là người hiền hòa, trung thực và chăm chỉ nên rất quý mến.

Mùa trung thu năm đó, bánh trung thu và bánh pía của lão bán rất cháy hàng, mẻ nào hết mẻ đó. Những người ăn bánh đều nói rằng hương vị của bánh trung thu đặc biệt thơm ngon, cũng không ai vì bánh của lão mà bị bệnh cả, nên mọi người rất tin tưởng vào tiệm bánh của ông Hùng. Đương nhiên, lúc đó ở một vùng ngoại ô nhỏ bé chẳng có ai rỗi hơi mà mang bánh để đi phân tích hương vị cả.

Cảm thấy thịt người có hương vị đặc biệt khiến thực khách mê mẫn, lão nảy ra ý định dùng luôn thịt người mà làm bánh. Cứ mỗi buổi sập tối, lão đạp xe lân la đến những chỗ vắng người, giả vờ tông xe vào người ta rồi nhân lúc họ không để ý mà chụp thuốc mê, bỏ vào bao tải mà mang về lốc thịt. Vừa chẳng tốn tiền mua thịt, lại được hương vị bánh thơm ngon, chẳng mấy chốc mà tiệm bánh của lão trở nên nổi tiếng vì thế lão không chỉ bán bánh trung thu không mà hằng ngày còn dùng thịt người để làm lạp xưởng, patê, phá lấu mà bán bánh mì, bánh bao… Có cả đầu bếp từ Tân Gia Ba*** đến Việt Nam tìm lão trả số tiền lớn để học bí quyết làm bánh trung thu của lão nhưng lão từ chối và nói rằng đó là công thức gia truyền, chỉ truyền lại cho đích tử**** nên không thể phổ biến cho người ngoài.

Giàu có nhanh chóng đến với lão nhưng cửa tiệm và lò bánh thì vẫn cũ kĩ, ọp ẹp như ngày đầu lão đến đây. Phần vì nhà là nơi bắt đầu và cũng không nên thay đổi, người Hoa rất coi trọng việc phong thủy chọn đất làm nhà, cất mộ, họ cho rằng gia chủ có ăn nên làm ra hay không, phần lớn đều liên quan đến việc chọn đất. Họ nghĩ rằng chính nơi họ bắt đầu ấy phong thủy tốt, giúp họ làm ăn khấm khá cho nên họ sẽ tiếp tục duy trì như trước. Họ sợ “sai một li sẽ đi một mớ”, sợ “mất tất cả những gì đang có” nên thà họ sống ở chỗ cũ mà vẫn duy trì được suộc sống như trước thì vẫn hay hơn, phần vì sau khi vợ chết, lão đau lòng chán nản mà sinh ra thậm tệ, lão bắt đầu đắm mình vào “kiếp đỏ đen” thâu đêm suốt sáng mỗi khi mưa gió không có khách tới mua bánh, và lần đi vắng này cũng là đi “múa quạt” như bao lần khác thôi, tuy là giàu có nhưng tài sản tích trữ khi đau ốm cũng chẳng được bao nhiêu.

***
Lãm Thi Tiên gạt nước mắt mà nói tiếp với K’Nơ:

“Anh có lòng lập bài vị cho tôi, tôi sẽ không chối từ, vì số chết oan không biết đến bao giờ mới siêu thoát, cả những người dưới giếng nữa, anh hãy giúp cả họ, chỉ cần ghi “Những vong hồn chết dưới lưỡi dao của Vương Lưu Hùng” rồi gởi họ lên chùa, nhờ các sư thầy trì tụng Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh cho họ sớm siêu thoát để họ không còn lưu luyến mà tìm lão trả thù, chi bằng siêu sanh mà về thụ hưởng thờ cúng của gia đình thì hơn . Trời cũng gần canh hai rồi(*), lão già đó sẽ trở về mà làm bánh thôi, tôi không thể ở đây lâu được”.

“Nhưng tôi vốn là người Khơ-me, người Khơ-me chúng tôi theo Phật Giáo Nam Tông (**), chưa bao giờ tụng kinh Bồ Tát” – K’Nơ đáp.

“Tôi đâu có kêu là anh phải tụng, tụng làm sao trong cái lò bánh nhuốm đầy máu người này?”
Chập 5 : úp sau nhé

_________________________
#Chú_thích:
*Hương Cảng: âm Hán Việt của Hồng Kông (hương cảng hay còn gọi là “xứ cảng thơm”)

** Đề Ngạn – Tây Cống: âm Hán Việt, Đề Ngạn tức Chợ Lớn, Tây Cống tức Sài Gòn, người Hoa ở Chợ Lớn gọi Sài Gòn là Tây Cống. Trong những năm 1930-1950 do quá trình đô thị hóa, thành phố Sài Gòn và thành phố Chợ Lớn dần dần sáp nhập với nhau. Nay thuộc TP.HCM

*** Tân Gia Ba: âm Hán Việt của Singapore

**** Đích tử: con ruột (trường hợp này hiểu là con trai cả, giống như “Cháu nội đích tôn” nghĩa là “Con trai cả của người con trai cả”)

(*) Canh hai: từ 1h đến 3h sáng

(**) Phật Giáo Nam Tông: là một nhánh của Phật giáo, lưu hành tại các nước Ấn Độ, Sri Lanka, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia và Lào, nên còn được gọi là Nam tông Phật pháp hay Phật giáo Nam truyền, Phật giáo Nam Tông.
Ở Việt Nam, đa số người Khơ-me tu tập theo nhánh này.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *