BÁNH TRUNG THU NHÂN THỊT NGƯỜI , Chap 1

Chap1
Sau khi thoát khỏi đại nạn “Ma thú” , ông bà Tân Tuấn giữ lời hứa phát nguyện phóng sanh, từ thiện, ông bán hết tài sản và chuyển giao toàn bộ khu rừng lại cho chính quyền, mang theo tiền bạc và cậu Tài di chuyển đến nơi khác sinh sống, lánh xa thôn bản nơi rừng rú hẻo lánh, nơi mà để lại cho ông bà sự mất mát to lớn và ám ảnh suốt cả cuộc đời, đi theo gia đình ông chỉ có thằng K’Nơ.
K’Nơ vốn là người dân tộc Kherme nơi thôn bản đó, cha mẹ anh cũng là người làm của ông Tuấn , không may cả hai vợ chồng đều bỏ mạng trong một vụ tai nạn. Trong một lần cha anh lái xe tải chở lồ ô cho ông Tuấn từ rừng về nhà, xe vì chở nặng lại gặp đường rừng vừa mưa to lầy lội trơn trượt, chiếc xe chết phanh lao tự do theo quán tính từ dốc xuống đâm vào một gốc cây to rồi lật ngang. Ba mẹ K’Nơ vì thế mà mất mạng, anh trở thành trẻ mồ côi không nơi nương tựa, được ông bà Tân Tuấn nhận làm con nuôi từ dạo ấy, tuổi của K’nơ cũng trạc tuổi của Tình, sau khi Tình bị hổ ăn thịt thì trong nhà chỉ còn có anh và Tài thủ thỉ với hai ông bà già.

*************************

Năm ấy, K’Nơ bỏ cái xứ tăm tối kia mà đi. Lời ông Tuấn còn vẳng mãi bên tai

– Đi đi con, đừng quay lại! Chốn này lộ tử đã mở, nghiệp ba khó thoát! Chỉ có con là chưa mang kiếp nạn này vào thân. Đi! Đi mà tìm nơi có người mà ở!

Anh không dám cãi lại, đành quay bước mà đi, để lại phía sau hình ảnh ông già tần ngần đứng trước ngôi nhà mới dựng, hai bên tả hữu để hai cái đầu người là bà Tân và cậu Tài.

Nó đang đến, cái thứ nghiệt súc ấy chẳng tha cho bất cứ ai. Nhưng anh hiểu lời của ông Tuấn, hãy đi, cho đến một ngày anh có thể về mà không còn sợ hãi.

Anh lang thang đã bao ngày, anh chẳng nhớ rõ. Chỉ biết là khi đôi chân đã rã rời, tay không còn bốc nổi nắm lá để nhai cho đỡ đói thì anh đã nghe thấy tiếng người.

Đã bao nhiêu lâu anh chẳng nghe những thứ tiếng thân thuộc ấy? Và âm thanh đầu tiên anh nghe sau những tiếng nói ấy là tiếng “cạch cạch”, xen lẫn mùi thơm khó tả, da diết nơi đầu mũi.

Cố sức lết người đến nơi phát ra tiếng động ấy, hương thơm mỗi lúc một nồng hơn, cuốn lấy cái dạ dày đang réo liên hồi của anh.

– Cái Bang hỏ? Xin lỗi nhà này không có của để cho!

Tiếng động ấy dừng lại, thay bằng tiếng nói đàn ông nhanh gọn.

Anh chẳng còn sức để nói, nhưng vẫn cố móc trong tay nải ra hai tờ bạc nhàu nát và đưa cho người đàn ông kia. Người này khẽ đưa mắt nhìn rồi lại nói.

– Ai đời lại bán nửa cái bánh bao giờ?

Anh nghẹn ngào. Chốn này, người ta đối xử với nhau bằng mấy tờ giấy bạc, mấy ai sống với nhau bằng tình? Ở nơi rừng thiêng nước độc đã lâu, con người nương nhau mà sống. Còn ở đây, cái nỗi sợ nhất là thiếu tiền chứ không phải là yêu ma tác quái, họ chẳng lý gì thông cảm cho người như anh.

Anh định quay đầu bước đi, dự tìm chỗ nào kiếm thứ gì lót dạ thì người kia chạy lại, đoạn kéo vào trong nhà. Anh chưa kịp vùng vẫy thì người này đã đưa cho anh hai cái bánh bao còn nóng hổi mà rằng.

– Ăn đi! Cũng hên là ngộ đang thiếu người dọn dẹp. Ăn xong thì lau dọn giúp ngộ chỗ này rồi đi nơi khác mà xin ăn!

Anh ứa nước mắt, gật đầu mà lạy tạ.

Hai cái bánh bao ấy ngon đến lạ lùng, bất giác anh có thoáng chút ngạc nhiên, nhưng nghĩ vì cái bụng đói mà sinh hoan lạc, anh lại bỏ qua chút ngỡ ngàng đó mà cắm cúi ăn tiếp. Dòng nước thịt từ trong bánh bao tứa ra, tràn ngập miệng, xen lẫn mùi của tỏi, hành phi, rồi lại một chút vụn sụn băm, thỉnh thoảng lại có hạt tiêu cay nồng. Thoáng chốc, sức lực của anh dường như quay lại tức thì, tràn trề dương khí.

Hai cái bánh ấy, chẳng mấy chốc mà chui tọt cả vào bụng. Chẳng đợi người kia nhắc, anh vội vã lấy cái chổi xương dựng bên góc nhà, hí hoáy quét sạch tươm khoảng đường phía trước. Đoạn lại lấy xô nước cũ mèm rồi rảy ra đường, con đường đất đang mờ mịt bụi bỗng trở nên thoáng mát, trong lành hơn.

Anh lại nhanh tay chộp lấy cây chổi xể treo trên góc xà, quét sạch sẽ từ trong ra ngoài, rồi vun đống bụi bẩn ấy lại một góc mà đổ vào gốc cây phía trước. Người đàn ông kia nhìn anh, vẻ hài lòng lắm.

Thấy việc đã xong, anh khẽ cúi chào người ấy mà đi. Nhưng người này lại dúi vào tay anh một tay nải nóng hổi. Mở ra, lại là hai cái bánh bao trắng nõn, ăm ắp nhân thịt.

– Đội ơn ông chủ, nếu có dịp quay lại, tôi xin tạ ơn ông!

– Bánh bao ngộ làm, không ngon lắm xin đừng chê!

Người này nhìn K’Nơ cười, có vẻ như đã quen biết từ lâu.

– Không! Nó thật sự ngon lắm! Mà nó còn có vị lạ mà tôi chưa từng nếm qua bao giờ. – — Anh hồ hởi, cười đáp lễ.

Nhưng quái thay, người kia bỗng không cười nữa mà trầm ngâm đến lạ. Ông đưa tay lên cằm, suy tư một lúc rồi nói.

– Bánh ngộ làm, thật không thiếu người khen ngon! Nhưng người nói nó lạ, đây là lần đầu!

Rồi ông nhìn vào nải hành trang của K’Nơ. Đoạn, ông lại nói, hơi chút vội vã.

– Xứa khác tới hả? Lị kiếm việc phải không? Có muốn làm ở chỗ ngọ chứ?

Tất nhiên K’Nơ chẳng chối từ. Và đó là chuyện làm thế nào mà anh trở thành người giúp việc ở đây.

***
Lò bánh Cát Tường vốn chỉ là một cửa hàng nhỏ, lọt thỏm giữa con phố người Hoa này. Nhưng chẳng vì thế mà nó ít người qua lại. Xung quanh tuy còn nhiều cửa hàng bánh nữa nhưng tiệm bánh của ông Vương Lưu Hùng lại là nơi tấp nập người đến đông nhất. Ai cũng mong muốn thưởng thức món bánh bao nổi tiếng của ông, để được cắn ngập răng vào cái nhân đầy ắp thịt, mọng nước nhân hơi mặn mà ngọt hậu ấy.

Lại nói về Vương Lưu Hùng, ông khoảng hơn bốn mươi tuổi, nhưng thân hình săn chắc, vạm vỡ như đám cửu vạn, khác xa hình ảnh người thợ làm bánh mảnh mai, yếu ớt như thường thấy ở mấy tiệm kia.

Ông lại là người quy củ, cứ khoảng gà gáy ba canh là ông lại dậy, đi thẳng vào bếp mà chuẩn bị nhân bánh cho mẻ buổi sáng. Tiếng “cạch cạch” vang lên một lúc thì đến lượt K’Nơ dậy. Anh chuẩn bị nhào bột, rồi cán vỏ. Xong xuôi thì cứ để đấy mà di dọn dẹp hàng quán, còn ông chủ thì tự tay gói nhân và hấp bánh.

Buổi sáng, bao giờ cũng sực nức mùi bánh bao mới, thơm ngát cả vùng. Những chiếc bánh bày ra, một mâm xếp hình chữ bát, mâm còn lại xếp hình bậc thang. Chẳng hiểu ngụ ý là gì, nhưng ông Hùng đã nói vậy thì anh cứ làm theo, chẳng thắc mắc gì cả.

Thậm chí đến tên anh, ông chủ cũng bảo không hợp. Người ở đây vốn không mấy thiện cảm với đồng bào, nên ông chủ cho anh cái tên Khương Dật. Anh thấy cũng hay nên đón nhận. Bây giờ, ai đến cũng gọi anh là Tiểu Khương, thằng Khương chẳng ai biết cái tên “cúng cơm” mà gia đình ông Tuấn đã bao lần gọi “K’Nơ” nữa.

Mọi chuyện cứ thế ngày qua ngày, cho đến một hôm nọ…

K’Nơ đang ngủ say, bỗng có tiếng động nào đó sột soạt. Ban đầu, anh nghĩ là chuột nên để cho qua, đến khi tiếng động càng lớn thì anh bực bội bật dậy, tính tìm con chuột tính sổ.

Quái lạ thay, tiếng động không ai nhắc mà ngưng, không gian lại trở nên yên tĩnh lạ lùng. Cảm thấy chột dạ, nhưng ở chốn rừng thiêng nước độc đã lâu, anh cũng gan mà nhẹ bước xuống giường. Anh suýt thét lên thành tiếng khi chân anh như dẫm phải vật gì đó, tựa hồ như da thịt người nhưng lạnh ngắt. Anh điếng hồn thụt chân lên rồi lén nhìn xuống.

Anh cảm thấy vừa buồn cười, vừa điên tiết. Hóa ra vật anh dẫm phải là con chuột to đùng nằm chết phía dưới tự bao giờ. Lấy cái bao giấy đặt cạnh đầu giường, anh định gói con chuột vứt đi thì bỗng anh cứng đờ cả người ra khi nhìn thấy phía dưới có gì đó chuyển động.

Con chuột đã chết dưới kia, từ từ co người lại rồi cựa quậy, càng lúc càng điên cuồng hơn. Nó lật mình, nhón dậy bằng bốn chân đầy lông lá, đôi mắt như có lửa, sáng rực trong đêm tối khuya khoắt. Nó cứ thế tiến dần lại anh, nhưng được một đoạn thì dừng lại. Miệng nó há to, lộ mấy cái răng nhọn hoắt. Từ trong đó, một thứ gì trắng nhờn chui ra.

Những ngón tay người!

Những ngón tay dài ngoẳng, bám vào miệng con chuột mà chui ra. Dần dần, cả một cánh tay chui ra khỏi miệng con chuột. Con chuột giờ như miếng giẻ nhùi rách nát, chỉ còn bộ da, còn cánh tay thì đến khúc khủy, phía dưới nham nhở thịt vụn chuyển động bò bò như con nhện tiến về gần anh.

Nó leo lên chân, rồi đến đầu gối. Khúc khủy tựa vào hạ bộ, cánh tay đưa lên trước mặt anh. Còn anh thì vẫn cứng đờ người, miệng cứng ngắc không cử động nổi. Cánh tay bỗng dừng lại, những ngón tay co lại chĩa một ngón ra như ra hiệu anh nhìn về phía cánh cửa sổ.

Ngoài ấy, một đầu người thò vào, trắng nhờ, đôi mắt chỉ còn là lòng đen…

Anh hét lên rồi bật dậy. Chợt nhận ra mình còn nằm trên giường, lưng ướt đẫm mồ hôi.

“Chây me!* Một giấc mơ quái dị!”. Anh thầm rủa trong miệng.

Nhưng ngoài kia, tại cánh cửa sổ ấy, rõ ràng cái đầu vẫn nhìn anh! Đó không còn là giấc mơ nữa!

Nuốt nước bọt nghẹn lại nơi cuống cổ, K’Nơ cố sức cử động thân mình. Có vẻ như có kết quả, tay anh dần nhịp được vài ngón, chân cũng không còn tê cứng như trước. Phía ngoài, cái đầu bỗng nhiên biến mất như cách nó xuất hiện.

Nhưng ngoài kia, chắc gì thứ đó đã đi mất?

Cố cử động đôi môi, K’Nơ thét lớn:

“Ông chủ!!! Cứu con!!!”

Lần này thì những tiếng “cạch cạch” giống như tiếng lúc ông Hùng thường làm nhân bánh vang lên, rõ mồn một. Bẵng đi một lúc, tiếng động ấy ngừng lại, một lúc sau lại nghe tiếng sột soạt mỗi lúc một gần.

K’Nơ gần như cảm thấy mình được sinh ra lần thứ hai khi cái đầu của ông Hùng ló vào, vẻ ngạc nhiên khi thấy anh ngồi cứng đờ trên giường, không chút động đậy.

Quả thật lúc ấy, dù có cố thì K’Nơ cũng không thể “vãi” ra quần được. Anh có còn cảm giác gì đâu!

***

Sau lần ấy, ông chủ nghe xong cậu chuyện chỉ mắng hai tiếng “Hàm hồ!” rồi quay đi, chẳng chịu nghe K’Nơ giải thích. Nhưng từ sau lần ấy, ông có vẻ là lạ. Mỗi buổi sáng, ông dành ra chút thời gian, đến cái giếng trong vườn mà thắp vài nén hương, vẻ thành tâm xen chút đau khổ.

Tất nhiên việc ấy chẳng qua mắt K’Nơ được. Đôi lúc anh cũng lén ra nhưng bị ông chủ phát hiện và mắng té tát, cấm anh không được bén mảng đến nơi ấy. Vậy là ngoài gian bếp nơi ông chủ làm nhân, anh lại bị cấm đến cái giếng trong vườn.

Nói về cái gian bếp ấy, khi lần đầu làm ở đây, ông chủ cấm anh không được đến gian bếp khi ông đang làm việc. Hỏi ra thì ông bảo đó là truyền thống gia đình, không thể để người ngoài vào được. Cho là phải, chẳng bao giờ K’Nơ đến nơi ấy. Anh thật thà như cái chất đồng bào của mình.

Nhưng mọi chuyện chẳng đơn giản đến thế…

Tháng 7 đến, là ngày quỷ môn quan khai mở, cho cô hồn oán linh được lên nhân gian đặng mà thăm lại thân nhân. Ngày ấy, đến cái lá khô rơi dọc đường cũng mang vẻ ảm đạm, chưa nói đến cái vườn như đã lâu không ai đến, càng cô tịch, kinh hãi đến ớn lạnh người. Ai ai cũng chuẩn bị lễ để xá tội vong nhân, người đi nườm nượp hàng đêm, có vẻ dương khí cao hơn thường lệ. Nhưng xen lẫn trong đó, ai cũng cảm nhận thấy âm khí nặng nề, nhất là người già khi họ than tiết trời có vẻ như lạnh lẽo hơn thường nhật.

Ấy vậy mà chẳng hiểu sao, ông chủ lại bắt K’Nơ kê cái giường của anh lại gần cửa sổ hướng ra vườn. Ông nói rằng ngày này, cô hồn “âm” thì không sợ, chỉ sợ lũ cô hồn “dương” nhân cơ hội mà lẻn vào làm chuyện thị phi. Thân người ở, K’Nơ phải canh cái lò bánh xập xệ này cũng là phải đạo.

Chẳng chối từ được, K’Nơ đành phải nghe theo. Cố nhiên đến đêm thì anh chẳng tài nào ngủ nổi. Lâu lâu lại nghe tiếng pháo tiểu đì đùng lại giúp anh bớt sợ đi đôi chút, cơ mà sao lại có tiếng pháo? Chẳng phải đó là để xua đuổi tà ma sao? Hay là có con ma nào đang ám nên họ phải đuổi? Suy nghĩ vẩn vơ một lúc, anh thiếp đi lúc nào không hay.

Có lẽ đã ngủ một lúc lâu, anh nghe rõ tiếng ai đó gọi.

“Dậy đi chứ? Trễ rồi kìa!”

Anh vẫn nhắm mắt, cố nài nỉ.

“Chỉ một chút nữa thôi mà, ông chủ…”

Nhưng giọng đó chẳng chịu nghe, lại tiếp:

“Dậy đi! Trễ rồi!”

Anh vẫn cố ngủ thêm chút nữa. Lần này có vẻ đã bực bội, giọng ấy quát to.

“Dậy ngay!!!”

Chợt nhận ra đó chẳng phải tiếng ông chủ, K’Nơ hoảng hốt mở mắt. Chẳng có ai. Anh dáo dát tìm quanh phòng, lạ lẫm khi thấy xung quanh tĩnh mịch, chỉ có mỗi ngọn đèn dây tóc vàng chóe đang tỏa sáng.

“Đằng này!”

Anh nhận ra tiếng đó là từ hướng cửa sổ.

Run rẩy, anh từ từ quay đầu lại. Tay anh cố chặn tiếng hét chực chờ nơi đầu lưỡi. Phía ngoài cửa, một người. Không! Đúng hơn là cái thây người, trắng nhờ đang ve vẫy cánh tay lộ xương trắng hếu trước cửa.

Cái thây ấy chẳng lành lặn, mà thảm thương đến kinh dị. Nơi đáng lẽ là đôi mắt, nay chỉ còn hai hốc sâu hoắm, đen trũi mà ứa ra những dòng đen như máu thẫm. Cái mũi rõ đã bị cắt nham nhở, lộ hai vành đong đưa chút thịt. Miệng thì bị cắt đến mang tai, trơ ra hàm răng đôi chỗ lởm chởm.

Nhưng kinh dị nhất là đôi cánh tay chân. Chỗ ấy lộ rõ xương trắng hếu. Nơi lồng ngực, chi chít lỗ to nhỏ xen kẽ, đâu đó có vài con rết chạy qua, chui vào. Từ trong những cái lỗ ấy, đầu những con dòi bằng đầu đũa cứ thụt ra, ngoe nguẫy.

Cái thây ấy bấu vào cạnh cửa, rồi hỏi to.

“Mày đâu rồi? Tao không thấy mày!”

K’Nơ nhận ra cái thây ấy bị mù! Anh vội vã ngồi im, không dám cả hít thở. Cái thây quanh quẫn một lúc rồi chồm cả người qua cánh cửa sổ, ngay bên cạnh anh!

Anh hãi hùng trong tâm, nhưng ngoài thì vẫn yên ắng như lệ. Những cái lỗ nơi lồng ngực của cái thây càng lúc càng gần, vài con dòi búng ra, nhảy lên mặt K’Nơ. Một số con cố len vào hốc mắt nhưng anh chẳng dám dụi, chỉ cố chớp mắt cho nó bò ra. Con dòi cứ cố rúc vào, cảm giác ngứa ngáy đến khó tả.

Đến khi chịu không nổi, anh đưa tay lên mà dụi, cảm giác khoan khoái tột cùng. Nhưng anh nhận ra đó là sai lầm cả đời của mình!

Cái thây nhận ra có người, nó chồm vào, ôm chầm lấy K’Nơ. Nó mở to miệng như khoái trá, gằn từng câu trong họng.

“Mày đây rồi, thằng khốn!”

K’Nơ hét lớn như vỡ nhà.

***

K’Nơ choàng thức dậy, chẳng thấy gì cả. Xung quanh chỉ còn tiếng “cạch cạch” của ông chủ đang làm nhân bánh lúc sáng. “Lại giấc mơ quái dị!” Lần này thì anh rủa cả thành tiếng.

Nhận ra đã đến lúc mình phải làm vỏ bánh, anh vội dậy đi vào trong chái bếp. Chợt thấy mắt có gì đó cồm cộm gây ngứa, anh đưa tay mà dụi. Từ mu bàn tay, rõ là một con dòi trắng, to bằng đầu đũa đang ngoe ngẫy quanh vũng nước mắt. Nó co người, búng một cái thật mạnh mà bay ra phía vườn.

Con dòi đó, giống như lũ dòi đã ở trong cái thây kia!

(Hết chương 1)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *